Các công dụng và 10 bài thuốc cổ phương từ nghệ.

Các công dụng và 10 bài thuốc cổ phương từ nghệ.

Nghệ có rất nhiều công dụng và được đưa vào các bài thuốc cổ phương bao đời nay. Vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu loại gia vị phổ biến này có các công dụng thần kỳ như thế nào nhé.

Giới thiệu chung

Nghệ, trong đông y hay được gọi là khương hoàng ( thân rễ nghệ), uất kim ( rễ củ ), có tên khoa học là Curcuma domestica Valet, họ Gừng Zingiberaceae. Cây nghệ thuộc loài thân thảo, cao 0.6 – 1m. Thân rễ to, có ngấn, phân nhánh thành nhiều củ hình bầu dục, màu vàng sẫm đến đỏ, rất thơm. Nghệ trổ hoa vào tháng 3 – tháng 5 hàng năm.

Nguồn gốc ban đầu của cây nghệ có lẽ xuất phát từ Ấn Độ, sau đó được lan ra trồng phổ biến ở châu Á. Tại Việt Nam, nghệ được trồng ở hầu hết các tỉnh. Loài cây này ưa ẩm, ưa sáng, thích nghi tốt với nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau.

Bộ phận dùng

Người ta thường thu hoạch nghệ để làm gia vị và làm thuốc. Thân rễ được thu hái vào tháng 8, 9, cắt bỏ rễ để riêng.

Để làm gia vị, nghệ có thể được dùng tươi, hoặc phơi sấy khô tán bột. Để làm thuốc, y học cổ truyền thường chế biến nghệ theo nhiều phương pháp khác nhau: thái phiến, sao với giấm, thái phiến sao vàng, chế với phèn chua, chế với giấm và cả phèn chua.

Củ nghệ

Thành phần hóa học

Trên thế giới đã tiến hành rất nhiều công trình nghiên cứu về các thành phần hợp chất có trong nghệ. Củ nghệ chứa tới 5.8% tinh dầu. Nhắc đến nghệ không thể không kể đến curcumin chiếm hàm lượng 1.5 – 2%. Thực chất curcumin là một hỗn hợp 3 thứ gồm curcumin I – biferuloylmethan chiếm tỷ lệ 60%, curcumin II là monodesmetoxy curcumin chiếm 24%, curcumin III chiếm 14%.

Tác dụng dược lý

Nghệ đã được nghiên cứu và chứng minh có rất nhiều tác dụng dược lý quan trọng mà chủ yếu liên quan đến nhóm hoạt chất curcumin:

– Tác dụng chống viêm cấp tính và mạn tính, đặc biệt là curcumin do khả năng thu dọn các gốc tự do

– Hoạt tính chống loét dạ dày và loạn tiêu hóa. Curcumin cải thiện loét dạ dày nhờ kích thích tăng tiết chất nhầy để bảo vệ niêm mạc dạ dày.

– Tăng tiết dịch mật, chống loạn tiêu hóa, giảm đau bụng

– Tác dụng kháng khuẩn: Ức chế sự phát triển của trực khuẩn lao, nhiều loại vi khuẩn và nấm,

– Giảm cholesterol và lipid máu

– Kem nghệ có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, loại trừ tổ chức hoại tử bỏng, tái tạo tổ chức và nhanh liền sẹo.

– Một bài thuốc từ nghệ kết hợp với các loại dược liệu khác đã được điều trị viêm gan virus. Có 20 bệnh nhân ca cấp tính đều khỏi cả về mặt lâm sàng và xét nghiệm hóa sinh, có 2 ca mạn tính đều không khỏi

– Tác dụng làm lành vết loét

Tính vị và công dụng

– Thân rễ nghệ ( khương hoàng) có vị cay đắng, mùi thơm, tính ấm. thường được dùng để chữa kinh nguyệt không đều, bế kinh, ứ màu, ngực bụng đầy chướng, dạ dày viêm loét, ung nhọt, ghẻ lở, phong thấp, tay chân đau nhức, vàng da. Liều dùng ngày từ 2-6g dưới dạng bột hoặc thuốc sắc, chia thành 2-3 lần uống.

Nhắc đến nghệ tươi, chắc hẳn ai cũng từng ít nhất một lần bôi nghệ lên vết mụn để đỡ sẹo hoặc vết ung nhọt, viêm tấy lở loét ngoài da.

– Trong Y học Trung Quốc, nghệ còn được dùng ngoài dạng bột để chữa vết thương viêm, trĩ, viêm mủ da và bệnh nấm tóc.

10 bài thuốc cổ phương từ nghệ

Chính bởi các tác dụng tuyệt vời kể trên mà nghệ có mặt trong rất nhiều bài thuốc cổ phương điều trị các bệnh khác nhau:

Chữa viêm cơ, hoại tử của trĩ:

Nghệ tươi 1kg, lá phù dung tươi 100g, thiên niên kiện 30g, cốt toái bổ 30g, mai b aba 30g, hồng đơn 20g, con rết 20g, long não 10g, sáp ong 50g, than tóc rối 20g, dầu thực vật ( vừng, lạc )1L.

Cách chế: Nghệ thái lát mỏng, đung dầu sôi cho lá phù dung và nghệ vào đun sôi 1 giờ. Khi nghệ khô quắt thành màu nâu thì vớt ra, cho các vị thuốc trên ( đã giã nhỏ). Đun tiếp 1 giờ, vớt thuốc ra lọc. Lại đun tiếp 1 giờ. Sau đó bắc nồi xuống khi còn nóng khoảng 60oC, cho long não, sáp ong, hồng đơn vào quấy đều. Để nguội đóng lọ sạch để dùng dần.

Bôi cao nghệ vào các búi trĩ và chỗ hoại tử, băng vô trùng.

Chữa phụ nữ bị uất mà sinh điên cuồng kinh giản:

Nghệ 280g, phèn chua 120g, tán nhỏ viên với hồ, mỗi lần uống 12g với nước sôi.

Chữa trúng phong bại liệt một bên:

Cây nghệ, rau sam, dây bìm bìm, lá cây dậu gió, cây xương bồ, huyết giác đều 12g, quế chi 20g, hồi hương, đinh hương đều 12g. Tất cả tán nhỏ, trộn với một bát rượu và một chén nước tiểu mà bóp.

Chứa lở ngứa, ghẻ:

Củ nghệ, hạt máu chó, hạt củ đậu, đều bằng nhau, diêm sinh một ít, tán nhỏ, hòa với mỡ lợn hay dầu vừng mà bôi.

Chữa trĩ lở sưng đau:

Nghệ, phèn xanh tán nhỏ, trộn với mật lợn và mỡ lợn mà bôi.

Chữa trĩ:

Nghệ mài ra, bôi vào vết thương

Chữa viêm loét dạ dày tá tràng, đau vùng dạ dày, ợ hơi, ợ chua:

Nghệ 10g, trần bì 12g, khổ sâm 12g, hương phụ 10g, bồ công anh 10g, ngải cứu 8g. Dùng dạng thuốc bột, ngày uống từ 10-20g chia 2 lần.

Chữa viêm gan, suy gan, vàng da:

Nghệ 6-12g, nghệ đen, hương phụ, quả quất non, tán bột, trộn với mật ong làm viên uống.

Chữa thổ huyết, máu cam:

Nghệ tán nhỏ, ngày uống từ 4 – 6g, chiêu với nước.

Chữa đái ra máu hay đái buốt:

Nghệ và hành sắc uống.

Nguồn: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – GS. TS Đỗ Tất Lợi

            Những cây thuốc và động vật làm thuốc tập II.

Xem vai trò của Nghệ trong thực phẩm bảo vệ sức khỏe Diếp cá vương TẠI ĐÂY

Bình luận

Share this post